tháng 8 2017

Link nguồn: http://zung.zetamu.net/2015/12/vi-sao-khoa-hoc-viet-nam-kho-phat-trien/

Saigon và Seoul những năm 1960, nơi nào phát triển hơn? Câu trả lời khá hiển nhiên: Saigon. Năm mươi năm sau, nơi nào phát triển hơn? Câu trả lời lần này cũng rất hiển nhiên: Seoul. Trong 50 qua, Hàn Quốc đã phát triển  hơn hẳn Việt Nam về mọi mặt, tất nhiên trong đó có khoa học. Ngay cả trong lĩnh vực toán học, là lĩnh vực “khá nhất” của Việt Nam, đồng thời là lĩnh vực mà cách đây mấy chục năm Hàn Quốc còn gần như là con số không, thì ngày nay Hàn Quốc cũng đã bỏ xa Việt Nam.
Không so được với Hàn Quốc, ta thử so với mấy nước láng giềng gần hơn và chậm tiến hơn, như là Thailand hay Malaysia, thì kết quả cũng “không mấy khả quan” cho Việt Nam. Các nhà khoa học Việt Nam (không kể những người lãnh đạo hoang tưởng về vị trí thứ 10 hay 20 gì đó của Việt Nam trên thế giới) tuy còn cãi nhau xem nền toán học của Thailand đã vượt hay còn thua Việt Nam, nhưng đều nhất trí rằng nếu chưa vượt thì cũng sắp vượt, còn nếu tính chung về khoa học thì vượt lâu rồi.
Tại sao dưới “sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Nhà nước” mà khoa học Việt Nam lại đì đẹt như vậy? Tìm hiểu thực tế ở Việt Nam, có thể chúng ta sẽ hiểu tại sao?
Ở một trường đại học lớn nhất Việt Nam, người ta sắm hai cái máy thí nghiệm “tối tân” mấy năm trước đây, mỗi máy mua sắm lắp đặt mất mấy chục triệu đô la. (Con số này trên thế giới là khiêm tốn, nhưng với trường ở Việt Nam là to lắm). Và kể từ khi lắp đặt xong thì hai máy đều … đắp chiếu. Một máy là một thứ kính hiển vi cực kỳ tinh vi, nhưng được giao cho khoa địa chất quản lý là khoa … chẳng cần tinh vi đến mức đó, nên từ lúc được giao họ chẳng biết dùng làm gì. Còn một máy là máy gia tốc phóng xạ, để ngay … gần cổng trường, từ lúc lắp xong cũng chưa cho được hạt nào bắn vào hạt nào bao giờ. Các nhà khoa học thì an ủi rằng “may mà nó không chạy, không lại phóng xạ khắp trường”. Nghe nói các phóng viên báo chí không được phép tiếp cận, nên dù hai máy này đắp chiều chình ình đã lâu nhưng chưa hề có tờ báo nào đả động tới.
Ví dụ trên chỉ là một ví dụ điển hình của một hiện tượng phổ biến ở Việt Nam: người có quyền tiêu tiền thì mua máy thật oách, thật đắt tiền (càng đắt mới càng có nhiều tiền “rơi rớt” vào túi), bất chấp việc những máy đó có thể không ai cần dùng hay biết dùng thực sự. Những ai dám lên tiếng phản đối đều có nguy cơ bị kết tội “chống lại đường lối chính sách của đảng và nhà nước”.  Một vị  trưởng khoa ở một trường đại học lớn miền trung có “nhược điểm” là quá ngay thẳng, không chịu ký nhận một cái máy được rót từ trường về khoa với giá kếch xù, với lý do là khoa không cần cái máy đó. Kết quả là ban giám hiệu trường cho vị này thôi chức trưởng khoa, cử người khác lên thay và ký nhận máy.
Một viện nghiên cứu thuộc bộ quốc phòng có một số máy móc khá tốt. Công việc chủ yếu ở đó là dùng máy đó để đi do thám thuê cho … công ty kinh doanh nước ngoài. Mọi người an ủi nhau, tuy rằng dùng tiền khoa học nhà nước đi làm việc tư, nhưng như thế còn tốt chán so với đắp chiếu, dù sao thì cán bộ còn được trau dồi thêm kiến thức (và nâng cao thu nhập) qua việc dùng máy công đi làm việc tư này, đỡ lãng phí.
Tỷ lệ tiền chi tiêu cho khoa học ở Việt Nam thuộc loại thấp nhất thế giới: theo số liệu chính thức chỉ được có 0.21% GDP, trong khi những nước phát triển nhanh  con số này phải ở mức 3-4% GDP (Hàn Quốc ở mức đó, Trung Quốc cũng đang hướng tới mức đó). Nhưng phải tính thêm chuyện là một tỷ lệ lớn tiền rót cho khoa học “bay hơi” và những dự án không đi đến đâu hết. Dù cho các quan chức có nói kiểu gì đi chăng nữa, thì khoa học ở VN rất ít được thực sự quan tâm, và cũng như ở các lĩnh vực khác, các khoản tiền rót vào đều bị tranh dành, chặt chém, đến được tay những người làm khoa học thật sự chỉ còn một phần nhỏ xíu.
Mà “ai quan tâm đến khoa học thực sự ở VN để làm cái gì”, khi mà khoa học cản đường của các “chủ trương lớn”?! Ngày xưa, khoa học cản đường giáo hội Thiên chúa giáo, nên giáo hội dọa đốt Galileo trên giàn thiêu nếu không chịu phủ nhận chuyện trái đất quay. Rồi “giáo hội cộng sản Liên Xô” tiêu diệt các nhà kinh tế học, sinh vật học v.v. vì những người này dám đưa ra các học thuyểt khoa học “phản cộng sản”. “Giáo hội” Việt Nam thực dụng hơn cả Giáo hội Thiên chúa lẫn Liên Xô, và cũng chưa đến mức đem bắn hay đem thiêu các nhà khoa học, chỉ bịt miệng họ hay vô hiệu hóa họ thôi. Một ví dụ điển hình là Nhà máy lọc dầu Dung Quất. Các nhà khoa học nghiêm túc đã cảnh báo ngay từ khi chưa xây là công nghệ mà  chính quyền lựa chọn hoàn toàn không thích hợp với dầu thô của Việt Nam. Không ai nghe. Kết quả: Dung Quất thành cái “thùng không đáy”, càng đổ thêm hàng tỷ đô la vào càng lỗ. Đấy là dân lỗ thôi, còn tất nhiên vẫn có những kẻ lãi đậm. Hay là bauxit Tây Nguyên. Không một nhà khoa học nghiêm túc nào lại có thể đồng tình với dự án đó. Nhưng nó vẫn được thực hiện, rồi hậu quả ra sao đời con cháu ta sẽ chịu.
Các nghiên cứu nghiêm túc về chất độc trong thực phẩm hay trong môi trường, về nạn phá rừng ở Việt Nam và do người Việt Nam phá ở các nước láng giềng, hay là về lịch sử, về thống kê, v.v., nếu đưa ra các kết luận khoa học dù khách quan nhưng “trái đường lối” sẽ nhanh chóng thành “bí mật quốc gia” bị xếp vào bóng tối. Thay vào đó là sự nở hoa của loại khoa học “không cần khách quan, miễn sao đúng chủ trương”.
Môi trường khoa học như vậy tất nhiên chỉ khuyến khích sự phát triển của loại khoa học “đúng chủ trương” nhưng không nhất thiết phải tôn trọng các nguyên tắc của khoa học. Hay nói một cách thô thiển là loại khoa học giả. Bất kỳ dự án nào, nếu có một tiến sĩ thật phản đối người ta sẽ tìm được ngay 10 tiến sĩ giả ủng hộ. Thế là dự án có cơ sở khoa học vững vàng rồi nhé, ai nói ngược lại là nói xấu chế độ.
Làm khoa học giả tất nhiên là dễ hơn làm khoa học thật. Điều này đúng trên toàn thế giới. Thậm chí có cả một “ngành công nghiệp” trên thế giới để cung cấp danh hiệu, bằng cấp khoa học  “dán mác ngoại hẳn hoi” cho những người từ những nước như ở VN không làm được gì thật nhưng lại thích súng sính bằng cấp danh hiệu. Tiến sĩ, giáo sư, viện sĩ (hàng nhái) đều có cả, muốn bao nhiêu bài báo quốc tế (trong những tạp chí cũng hàng nhái) cũng đều có ngay, chỉ cần ít tiền là xong. Thế nên hiện có khá nhiều vị ở Việt Nam mà thế giới khoa học chẳng ai biết đến nhưng gắn trên người đủ thứ chức danh giáo sư, viện sĩ này nọ. Mới đây, một viện sĩ kiểu đó còn tậu thêm cả những giải thưởng, tổ chức ăn mừng linh đình, mời được cả bộ trưởng khoa học đến dự.
Thế bộ trưởng có hiểu gì về khoa học không? Điều này mọi người tự tìm hiểu. Có điều là, phần lớn những người lên làm quan khoa học hay giáo dục ở Việt Nam thời nay, từ Bộ cho đến Viện, không phải lên bằng con đường khoa học hay giáo dục, mà là con đường “của tổ chức”, đảng đoàn. Làm sao có thể đòi hỏi những người đó hiểu biết gì về khoa học. Đối với các cá nhân trong guồng máy, thì sự nghiêm túc khoa học có khi lại là nhược điểm làm hại đường công danh. Một vị lên giáo sư từ khi còn trẻ (do giỏi thật), được cán bộ ở một trường đại học lớn bầu thành hiệu trưởng, nhưng không được Bộ bổ nhiệm vì những lý do “chỉ có ở Việt Nam”. Dù lý do chính thức là gì chăng nữa, thì đều phải hiểu là “thiếu năm trăm lượng việc này không xong”, mà vị này lại nghiêm túc quá không chấp nhận được chuyện “năm trăm lượng”. Thế là không thích hợp với tổ chức rồi, trong khi mọi chức tước  ngày nay đều có giá của nó. Đến xin làm giáo viên quèn có khi còn mất 400 triệu đồng nữa là hiệu trưởng đại học lớn.
Trong khi đó, “không nhất thiết” là khoa học thật, nhưng “hợp với bộ máy” thì có thể lên vị trí quản lý khoa học cao. Chung quy cũng là một  cách làm ăn thôi mà: cần có đầu tư thì mới có chức, và có chức thì phải biết thu hoạch từ chức để tái đầu tư cho chức to hơn. Một ví dụ  ở một trường ĐH lớn nhất VN, có vị nắm vị trí quan chức cao và nhòm ngó chức giám đốc to. Vị này thời làm nghiên cứu sinh thi tối thiểu còn trượt, chỉ đi buôn là “máu”, luận án thì “nhờ anh em viết hộ”, thế rồi bỗng chốc thành TSKH, rồi “giáo sư viện sĩ” ở “Tây”, về “nhảy dù” vào trường làm quan. Sách của vị thì do người khác viết, hỏi tại sao thì người đó nói “nhưng mà nó đối xử với tôi tốt lắm”. Rồi vị này lên giáo sư, rồi còn tranh cả các giải thưởng khoa học nữa!
Tại sao nhiều vị làm khoa học thật (tạm coi là thế) lại sẵn sàng viết sách thuê, luận án thuê cho những vị khoa học rởm? Vấn đề tất nhiên nằm ở tiền. Khi công việc nghiên cứu nghiêm túc được trả đồng lương chết đói, thì mọi thứ dễ dàng bị “thương mại hóa”, khó ai giữ được “phẩm chất của nhà khoa học” với mức lương chẳng đủ tiền xăng xe. Trong khi đó chỉ cần “nới lỏng lương tâm”, “lăn mình theo guồng máy” là thu nhập sẽ khá hơn hẳn, còn “khoa học thì thôi ai cần”.
Khoa học thật làm thật là khó, nhưng cái mác khoa học thì ai cũng muốn có. Bởi vậy mới có chủ nghĩa cộng sản khoa học, rồi tiến sĩ khoa học mác lê, rồi giáo sư công an hay giáo sư lịch sử đảng, v.v. Người ta nói rằng, trong đợt phong GS, PGS ở Việt Nam năm 2015, những ngành mà có nhiều GS, PGS được phong nhất là những ngành chẳng hề có công trình khoa học quốc tế. Ngành công an với nhiều GS mới đã đành (thôi ta tạm coi bí mật quốc gia), nhưng ngành kinh tế với nhiều GS mới cũng chẳng có bài báo quốc tế. Rồi ngành phương pháp giảng dạy cũng vậy, giáo dục đâu phải vấn đề của riêng Việt Nam, mà các GS, PGS mới chỉ toàn viết trong nước để đếm cho đủ công trình. Trong khi đó có một vài ngành làm nghiêm túc quá, khắt khe quá, “học đòi” tiêu chuẩn quốc tế, khiến nhiều đồng nghiệp trong ngành “tâm tư” khi thấy những ngành khác người ta lên PGS, GS “ào ào”.
Một đồng nghiệp VN kể chuyện, xin mãi PGS không được, vì tuy có công trình quốc tế nghiêm túc vẫn không được bầu (bị diệt ngay từ ở trường), rồi sau bao nhiêu năm cuối cùng cũng được. Đang vui vì được thì biết có vị khác khoa sử “chỉ biết phân biệt chân trái với chân phải” cũng lên PGS cùng đợt, thế là lại tịt hứng “tưởng là được gì, hóa ra như vậy”. Từ chỗ “biết phân biệt chân trái với chân phải” để thành PGS thì tất nhiên cũng cần vài trăm triệu tiền “bôi trơn cỗ máy”. Những PGS, GS kiểu “biết phân biệt chân trái với chân phải” tất nhiên sẽ dễ trở thành lãnh đạo khoa học và giáo dục, bởi “rất hợp” với guồng máy của chế độ Việt Nam.
Cái “guồng máy” đó không những có tài vô hiệu hóa những người nghiêm túc, mà còn có tài uốn người thẳng thành người cong (là những người sẽ bám được vào guồng). Một ví dụ là vị GS nọ, một thời oanh liệt lắm, nhà khoa học trẻ nổi danh với “công trình thế kỷ” (tuy rằng công trình thực ra bị sai và cũng chẳng phải là thế kỷ gì hết). Nhà khoa học này lúc trẻ giỏi thật, ăn nói rất hay, được nhiều đồng nghiệp mến, nhưng từ khi “vào guồng” thì khoa học xếp xó (tuy vẫn ngồi đủ thứ hội đồng), và ăn nói hành động ngày càng ngớ ngẩn ít tính khoa học. Cuối cùng thì vị có nhà lầu xe hơi (xe hơi từ thời còn rất hiếm ở Việt Nam), vợ con có lẽ cũng được nhờ, thành công rực rỡ theo kiểu học để làm quan, nhưng để lại được gì cho giáo dục và khoa học Việt Nam? Có khi là con số âm.
Voi vẽ thế cũng tạm được một cái vòi rồi. Guồng máy còn làm hỏng rất nhiều vị tài giỏi chứ không chỉ vị trên. Vấn đề là ở cái “guồng  máy” mà các nhà khoa học (tạm coi là chân chính) đều tự nhận mình hèn không ai dám nghĩ đến chuyện thay đổi nó. Khi một trưởng khoa đại học trong lúc tranh cử nói “tôi không phải là đảng viên và cũng không có ý định xin vào đảng”, thì có thể coi là tấm gương của sự dũng cảm trong biển “hèn đại nhân” rồi!

Trong chuyên mục Khám Phá Bnar thân, tôi muốn gửi các bạn cuốn sách bảy loại hình thông minh của tác giả Thomas Armstrong, được dịch bởi dịch giả Mạnh Hải - Thu Hiền. Tôi hy vọng với cuốn sách này, các bạn, các bậc phụ huynh có một cách nìn khác hơn về trí thông minh, về khả năng của con người, tạo điều kiệ cho các cá nhân phát triển toàn diện.

Từng trải qua thời gian học tập và rèn luyện trên ghế nhà trường, hẳn mỗi người đều có ít nhất một lần đặt câu hỏi về trí thông minh của mình, nhất là những người chưa bao giờ lọt được vào tốp học sinh xuất sắc trong lớp. Câu hỏi: “Con mình có thông minh không? Có học giỏi không?” cũng là câu hỏi ám ảnh rất nhiều các phụ huynh. Nhưng các chuyên gia về phát triển trí tuệ trên thế giới như Howard Gardner, Thomas Amstrong đã khẳng định rằng: các chương trình giảng dạy trong nhà trường lâu nay chỉ chú trọng phát triển và đánh giá 2 loại hình thông minh chính của con người là ngôn ngữ và toán học, trong khi trên thực tế lại có rất nhiều loại hình thông minh khác nhau, và mỗi người có thể sỡ hữu một hay vài loại hình thông minh thực sự nổi trội mà nếu biết cách rèn luyện và phát triển chúng, họ sẽ trở thành “những ngôi sao sáng” trong cộng đồng.



Viết về sự đa dạng của các loại hình thông minh, cuốn sách 7 loại hình thông minh (do Công ty AlphaBooks ấn hành) sẽ giúp bạn thay đổi cách suy nghĩ về trí thông minh và đưa bạn đọc vượt qua những quan niệm hẹp về chỉ số IQ - thường tập trung vào khả năng suy luận toán học và ngôn ngữ. Có 7 dạng thức thông minh: Thông minh Logic - Toán học, Thông minh Từ vựng - Ngôn ngữ, Thông minh Thị giác - Không gian, Thông minh Cơ thể, Thông minh Âm nhạc, Thông minh Nội tâm và Thông minh Tương tác.

Lý thuyết “đa thông minh” - theory of multiple intelligences (MI) - được Giáo sư Tâm lý Howard Gardner (ĐH Harvard) đưa ra lần đầu trong cuốn sách Frames of Mind: The Theory of Multiple Intelligences xuất bản vào năm 1983. Trong lý thuyết này, Howard cho rằng khái niệm thông minh vốn thường được đồng nhất và đánh giá dựa trên các bài trắc nghiệm IQ chưa phản ánh đầy đủ các khả năng tri thức đa dạng của con người. Theo ông, ở trường, một học sinh giải quyết dễ dàng một bài toán phức tạp chưa chắc đã thông minh hơn đứa trẻ khác loay hoay làm mãi không xong bài toán đó. Cậu học sinh thứ hai rất có thể sẽ giỏi hơn trong các “dạng” thông minh khác.

Theo đó, Howard Garder và nhóm cộng sự của mình đề xuất việc giáo dục học sinh nên phân loại để phát triển (những khả năng) hoặc cải thiện (những mặt yếu) của học sinh.

Phát triển lý thuyết của Gardner, Thomas Armstrong đã xuất bản cuốn 7 loại hình thông minh phân tích chi tiết, tập trung từng loại trí tuệ trong số 7 loại trí thông minh. Các ví dụ, các bài tập trong cuốn sách này sẽ khiến độc giả khám phá bản thân mình, giúp nhận ra mình có thiên hướng về trí thông minh nào và cách luyện tập để phát triển trí thông minh đó. Đối với phụ huynh của học sinh tiểu học, 7 loại hình thông minh có thể được dùng như một cuốn sách tham khảo để có thể nhận biết và phát triển tốt, toàn diện các loại hình trí thông minh của con em mình.





Ngày đó Việt và Chăm là hai kẻ ngang tài ngang sức. Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, nhưng thắng bại thời nào cũng có. Mình chịu ảnh hưởng văn hóa Tàu, Chăm chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn. Do khác nhau hoàn toàn nên hai nước cũng có một sự thích thú nhau nhất định. Như hoàng đế Việt mình rất mê các vũ nữ Apsara của Chăm với thân hình nảy nở, làn da bánh mật và đôi mắt to. Người Chăm xây dựng rất đẹp nên Việt mình cũng dùng thợ giỏi của họ, nhìn thánh địa Mỹ Sơn với tháp bà Ponagar là đủ đảm bảo chất lượng tay nghề rồi. Ẩm thực và âm nhạc Việt sau này cũng tiếp thu của Chăm (nước mắm, vv). Thậm chí vua Trần Nhân Tông được Chế Mân mời qua Chăm chơi, ghiền tới mức ở 9 tháng mới về, chắc được tắm biển Nha Trang :)).



Vậy mà nay cái dân tộc đó mất hết chẳng còn gì. Chính sách diệt chủng tàn bạo của người Việt sau khi chiến thắng đã lấy đi tất cả nền văn minh Champa. Trong khi lịch sử Việt Nam mình bước tiếp thì lịch sử Champa đã vĩnh viễn dừng lại ở cái năm 1832 oan nghiệt đó. Bây giờ dân số họ chẳng bao nhiêu, lại nghèo khổ. Như các phụ nữ Chăm phải gùi thuốc lên Sài Gòn, Đà Nẵng bán qua ngày.

----

Minh Thành Tổ Chu Đệ khi xâm lược Việt Nam đã viết:

"Khi binh lính vào nước Nam, trừ các kinh Nho gia, kinh Phật, đạo Lão không thiêu hủy. Ngoài ra, tất cả sách vở, văn tự cho đến các loại văn tự ghi chép ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ con học… đều đốt hết. Phàm những văn bia do Trung Quốc dựng từ xưa thì đều phải giữ cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ không để sót."

Sau đó khi đã thôn tính xong Việt Nam thì hắn ra chiếu lệnh thứ hai nhằm hủy diệt văn hóa triệt để hơn:

"Nhiều lần trẫm đã bảo các ngươi, phàm An Nam có văn tự gì, kể cả các câu hát dân gian,… các bia dù dựng lên một mảnh, hễ nom thấy là phá hủy hết. Sách vở do quân lính bắt được phải ra lệnh đốt luôn, chớ được lưu lại."

Sự hủy diệt đó khiến Ngô Sĩ Liên, nhà sử học chứng kiến những sự kiện này than rằng:

"Giáo mác đầy đường đâu cũng thấy quân Minh cuồng bạo. Sách vở cả nước thành một đống tro tàn."

Rồi 400 năm sau mình cũng đối xử với Champa như vậy chả khác gì. Vua Minh Mạng sau khi thôn tính Champa đã ra lệnh đồng hóa người Chăm thành người Kinh bằng cách buộc người Chăm phải mặc đồ người Kinh. Ngăn cấm tuyệt đối người Chăm không có quyền cúng kiếng hay thực thi nghi lễ tín ngưỡng của họ. Bắt buộc dân chúng Chăm phải làm nô dịch vô cùng nặng nề như việc nộp cống các loại gỗ quý, voi rừng, ngà voi, vv. Chưa kể còn buộc các vị tu sĩ Hồi Giáo phải ăn thịt heo và tu sĩ Ấn Độ Giáo phải ăn thịt bò.

Minh Mạng còn cho phép quan lại người Kinh đứng ra chỉ đạo, dùng roi gậy đánh đập người Chăm nếu họ làm nô dịch quá chậm chạp. Buộc người Chăm phải nộp thịt rừng như hươu, nai, thỏ, v.v.. Một khi người Chăm không tìm ra món thịt thú rừng, các quan lại người Kinh san bằng nghĩa trang Chăm, chưa nói đến việc đưa người Chăm ra xử trảm.

Chính sách trừng phạt của triều đình Huế đã làm đảo lộn hoàn toàn hệ thống tổ chức xã hội Chăm để rồi trong gia đình người em không còn biết người anh là ai; cháu không còn tôn trọng bậc chú bác; các thành viên trong gia đình đối xử với nhau như người Chăm-Kinh, không ngần ngại kéo nhau ra thưa kiện trước pháp lý Việt Nam.

Hết nộp thuế nặng nề, dân chúng Champa phải nộp một số lượng gỗ cho chính quyền Việt Nam dùng để đóng tàu chiến, xe bò hay đốt lò gạch. Phải xây dựng đập nước và hệ thống thủy lợi cho ruộng lúa của người Kinh. Ra lệnh tịch thu tất cả ruộng muối của người Chăm, được xem như là mạch máu kinh tế của dân tộc này.

Sau năm 1832, dân tộc Chăm tiếp thu thêm một khái niệm mới về tham nhũng mà họ chưa từng nghe đến trong đời. Những quan lại người Kinh không ngừng đòi tiền hối lộ của người Chăm để được miễn nô dịch. Không ngần ngại chia đất đai người Chăm thành mảnh vụn để đóng thuế và hình thành chính sách cho vay nặng lãi để rồi chủ nợ người Kinh tha hồ chiếm đoạt tài sản và ruộng rẫy của người Chăm thiếu nợ, hay bắt họ làm vật thế chấp.

Nhằm dập tan các cuộc khởi nghĩa chống đối, vua Minh Mang ra lệnh cho mỗi binh lính người Kinh phải chặt ba cái đầu của người Chăm vào mỗi buổi sáng mới nhận được tiền lương. Lợi dụng điều này, người Kinh tha hồ chém đầu người dân Chăm vô tội, càng nhiều càng tốt, để đem nộp cho chính quyền Việt Nam hầu nhận tiền thưởng. Đây là cuộc diệt chủng người Chăm vô cùng kinh hoàng chưa từng xảy ra trong lịch sử Đông Nam Á.

Người Việt mình ưa hòa bình nhưng khi cần mở rộng lãnh thổ thì cũng cực kỳ tàn nhẫn. Nói chung nước nào cũng vậy, chả riêng Việt Nam. Thời chưa có luật pháp quốc tế và Liên Hiệp Quốc thì phang nhau cướp đất là chuyện bình thường. Ngay cả Mỹ còn tàn sát người da đỏ khi khai phá miền tây mà. 2/3 lãnh thổ Việt Nam bây giờ là nhờ đánh chiếm mà có được. Nước mình may mắn ở chỗ, nếu ngày đó Lê Lợi sống an phận hoặc Nguyễn Trãi theo cha qua ải Nam Quan sang Tàu thì chắc giờ mình cũng mất nước vĩnh viễn như Champa rồi.

Trước mình đi phượt có ghé qua Ninh Thuận và Bình Thuận, nơi từng là tiểu quốc Panduranga của Champa thì không thấy mấy người Chăm. Tự nhiên rùng mình, cả một dân tộc đông đúc ngang người Việt mình mà giờ bị tàn sát đến mức trở thành dân tộc thiểu số, chỉ còn lại các phế tích đền đài rải rác dọc miền trung. Dân Việt trên toàn thế giới tới 2015 là 90 triệu, còn dân Chăm thì cỡ... 400 nghìn. Nhỏ em kết nghĩa mình là potterhead và cũng là hậu duệ người Chăm, không biết nhỏ có thấu được nỗi đau mất nước của tổ tiên không? 

Mình vẫn còn nhớ chút bài thơ Trên Đường Về, và đã đọc khi nhìn thấy cái tháp Chàm đầu tiên ở Bình Thuận:

Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi 
Những đền xưa đổ nát dưới thời gian 
Những sông vắng lê mình trong bóng tối 
Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than.

Đây những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn, 
Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi 
Những rừng thẳm bóng chiều lan hỗn độn 
Lừng hương đưa rộn rã tiếng từ qui.

Đây chiến địa nơi đôi bên giao trận 
Muôn cô hồn tử sĩ hét gầm vang 
Máu Chàm cuộn tháng ngày niềm oán hận, 
Xương Chàm luôn rào rạt nỗi căm hờn.

Đây những cảnh thái bình trong Chiêm quốc 
Những cô thôn vàng nhuộm nắng chiều tươi 
Những Chiêm nữ nhẹ nhàng quay lại ấp 
Áo hồng nâu phủ phất xõa lời vui.

Đây điện các huy hoàng trong ánh nắng, 
Những đền đài tuyệt mỹ dưới trời xanh 
Đây chiến thuyền nằm mơ trên sông lặng,
Bầy voi thiêng trầm mặc dạo bên thành.

Đây trong ánh ngọc lưu ly mờ ảo 
Vua quan Chiêm say đắm thịt da ngà, 
Những Chiêm nữ mơ màng trong tiếng sáo, 
Cùng nhịp nhàng uyển chuyển uốn mình hoa.

Những cảnh ấy trên đường về ta đã gặp
Tháng ngày qua ám ảnh mãi không thôi 
Và từ đấy lòng ta luôn tràn ngập 
Nỗi buồn thương nhớ tiếc giống dân Hời.

500_tranh-tet
Tác giả: Nguyễn Hải Hoành
Tiếng ta còn thì nước ta còn!
Đồng hóa dân tộc (national assimilation) gồm: 1- Đồng hóa tự nhiên, tức quá trình dân tộc A trong giao tiếp với dân tộc B, do chịu ảnh hưởng lâu dài của B mà A tự nhiên dần dần mất bản sắc của mình, cuối cùng bị B đồng hóa; đây là một xu hướng tự nhiên trong tiến trình lịch sử loài người. 2- Đồng hóa cưỡng chế: sự cưỡng bức một dân tộc nhỏ yếu hơn chấp nhận ngôn ngữ, chữ viết, phong tục, tập quán của một dân tộc lớn mạnh hơn; đây là một tội ác.
Đồng hóa dân tộc chủ yếu diễn ra dưới hình thức đồng hóa văn hóa, trong đó chủ thể đồng hóa thường là một nền văn hóa mạnh và tiên tiến (như đông dân hơn, kinh tế phát triển hơn, đã có chữ viết, có các hệ tư tưởng), đối tượng đồng hóa thường là nền văn hóa yếu và lạc hậu hơn. Đồng hóa ngôn ngữ là công cụ đồng hóa văn hóa thông dụng nhất, quan trọng nhất, hiệu quả nhất. Một dân tộc bị mất tiếng nói mẹ đẻ của mình và phải nói tiếng của một dân tộc khác thì không còn giữ được bản sắc dân tộc nữa.
Trong lịch sử, các nền văn hóa yếu thường bị nền văn hóa mạnh đồng hóa. Thời cổ, Trung Quốc là quốc gia đông người nhất và có nền văn minh tiên tiến nhất châu Á. Nền văn hóa Hán ngữ của họ có sức đồng hóa rất mạnh. Dân tộc Hồi ở phía Tây nước này, ngày xưa dùng chữ A Rập, sau nhiều năm giao lưu với người Hán cũng toàn bộ dùng chữ Hán và nói tiếng Hán. Ngay cả các dân tộc nhỏ nhưng mạnh về quân sự, sau khi thôn tính và thống trị Trung Quốc được ít lâu cũng bị nền văn hóa Hán ngữ đồng hóa.
Thí dụ dân tộc Mãn sau khi chiếm Trung Quốc và lập triều đại nhà Thanh đã lập tức tiến hành đồng hóa dân tộc Hán: cưỡng bức đàn ông Hán phải cạo nửa đầu và để đuôi sam, phải bỏ chữ Hán mà chỉ dùng chữ Mãn làm chữ viết chính thức trên cả nước. Nhưng đến giữa đời Thanh, tức sau khoảng 100 năm thì tiếng Mãn cùng chữ Mãn đều biến mất, từ đó trở đi người Mãn chỉ dùng tiếng Hán và chữ Hán, nghĩa là họ lại bị đồng hóa ngược bởi chính nền văn hóa của dân tộc bị họ cai trị lâu tới 267 năm!
Các nước đế quốc thực dân sau khi chiếm thuộc địa đều cưỡng chế đồng hóa ngôn ngữ dân bản xứ, quá trình này diễn ra khá nhanh, nhìn chung sau 5-6 thế hệ (mỗi thế hệ 25 năm), tiếng nói của người bản xứ đã bị thay bằng ngôn ngữ của nước cai trị. Đầu thế kỷ XV, Brazil bị Bồ Đào Nha chiếm, chẳng bao lâu tiếng Bồ trở thành ngôn ngữ chính thức duy nhất của người Brazil. Nhiều thuộc địa Pháp ở châu Phi như Bénin, Togo, Sénegan… dùng tiếng Pháp làm ngôn ngữ chính duy nhất. Năm 1918 nước ta bắt đầu dạy tiếng Pháp ở lớp cuối tiểu học, 10-20 năm sau toàn bộ học sinh trung học cơ sở trở lên đến trường đã chỉ nói tiếng Pháp, giáo viên chỉ giảng dạy bằng tiếng Pháp. Nếu cứ thế dăm chục năm nữa thì có lẽ Việt Nam đã trở thành nước nói tiếng Pháp.
Thế nhưng sau hơn 1.000 năm bị bọn phong kiến người Hán thống trị và cưỡng bức đồng hóa, dân tộc Việt Nam vẫn không bị Hán hóa, vẫn giữ nguyên được nòi giống, tiếng nói và phong tục tập quán.
Đây quả là một điều kỳ diệu có lẽ chưa dân tộc nào khác làm được. Đáng tiếc là chưa thấy nhiều người quan tâm nghiên cứu vấn đề này, một thành tựu vĩ đại đáng tự hào nhất của dân tộc ta (nói cho đúng là của tổ tiên ta thôi, còn chúng ta bây giờ thua xa các cụ).
Vì sao tổ tiên ta có thể làm được kỳ tích ấy ? Có người nói đó là do dân ta giàu tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc, xã hội có cơ chế làng xã bền chặt, v.v… Nói như vậy có lẽ còn chung chung, nếu đi sâu phân tích tìm ra được nguyên nhân cụ thể thì sẽ giúp ích hơn cho việc phát huy các truyền thống quý báu của dân tộc ta. Thực tế cho thấy tổ tiên ta giành được thắng lợi chống đồng hóa không phải bằng đấu tranh vũ trang mà chủ yếu bằng tài trí.
Xin nói thêm rằng chính người Trung Quốc cũng rất quan tâm vấn đề này. Chúng tôi đã thử nêu lên mạng Bách Độ (Baidu) của họ câu hỏi “Vì sao Trung Quốc thống trị Việt Nam hơn 1.000 năm mà Việt Nam không bị đồng hóa?”
Từ hàng triệu kết quả, có thể thấy đa số dân mạng Trung Quốc đều có chung một thắc mắc lớn: Vì sao bị Trung Quốc thống trị lâu thế mà người Việt Nam vẫn không nói tiếng Trung Quốc? Nói cách khác, họ coi đồng hóa ngôn ngữ là tiêu chuẩn đồng hóa quan trọng nhất và đều thừa nhận Trung Quốc đã không đồng hóa nổi Việt Nam. Họ tỏ ra tiếc nuối về sự kiện Việt Nam sau hơn 10 thế kỷ từng là quận huyện của Trung Quốc, từng dùng chữ Hán hàng nghìn năm mà rốt cuộc lại trở thành một quốc gia độc lập, dùng chữ Latin hóa, ngày nay là nước chống lại mạnh nhất chính sách xâm lấn Biển Đông của Bắc Kinh.
Do hiểu biết Việt Nam rất ít, thậm chí hiểu sai, hầu hết dân mạng Trung Quốc không tìm được lời giải thắc mắc trên, kể cả người tỏ ra am hiểu lịch sử nước ta. Họ nêu các lý do:
– Văn hóa Việt Nam có trình độ Hán hóa cao(?), người Việt rất hiểu và không phục Trung Quốc;
– Việt Nam ở quá xa Trung nguyên, khí hậu nóng, quan lại người Hán ngại sang Việt Nam làm việc, đã sang thì chỉ lo làm giàu, không lo đồng hóa dân bản xứ;
– Các nhân vật tinh hoa Trung Quốc như Lưu Hy, Hứa Tĩnh, Hứa Từ, Viên Huy (劉熙、許靖、許慈、袁徽) chạy loạn sang Việt Nam đã giúp nước này có nền văn hóa không kém Trung Quốc;
– Người Hán di cư đến Việt Nam đều bị người bản xứ đồng hóa v.v…
Nói chung họ đều chưa thấy, hay cố ý lờ đi nguyên nhân chính là ở tài trí của người Việt.
Nhưng họ nói người Việt Nam hiểu Trung Quốc là đúng. Do sớm hiểu rõ ý đồ thâm hiểm của phong kiến người Hán muốn đồng hóa dân tộc ta nên tổ tiên ta đã kịp thời đề ra đối sách. Cụ thể là đã tìm ra cách giữ gìn được tiếng nói của dân tộc mình trong quá trình bị bọn thống trị người Hán cưỡng bức học chữ Hán.
Mấy nghìn năm sau, một học giả lớn của dân tộc ta tóm tắt bài học lịch sử này trong một câu nói rất chí lý: “Tiếng ta còn thì nước ta còn!
Sau khi chiếm nước ta (203 tr. CN), Triệu Đà đã ép buộc dân ta học Hán ngữ, nhằm đồng hóa họ bằng ngôn ngữ. Có lẽ đây là thời điểm muộn nhất chữ Hán vào nước ta.[1] Sách “Việt giám Thông khảo Tổng luận” do Lê Tung viết năm 1514 có chép việc họ Triệu mở trường dạy người Việt học chữ Hán.[2] Về sau, tất cả các triều đại người Hán cai trị Việt Nam đều thi hành chính sách đồng hóa. Triều nhà Minh còn tìm cách tiêu diệt nền văn hóa của ta, như tiêu hủy toàn bộ các thư tịch do người Việt viết, bắt nhân tài, thợ giỏi người Việt sang Trung Hoa phục dịch.
Như vậy, dân tộc ta buộc phải chấp nhận học chữ Hán từ rất sớm (trước Triều Tiên, Nhật Bản nhiều thế kỷ). Do hiểu biết người Hán nên tầng lớp tinh hoa người Việt đã nhanh chóng nhận ra nếu cứ học như thế thì cuối cùng tiếng Việt sẽ bị thay bằng tiếng Hán, dân ta sẽ trở thành một bộ phận của Trung Quốc.
Vậy cha ông ta đã dùng cách nào để giữ được tiếng nói của dân tộc trong hơn 1.000 năm bị cưỡng bức học và dùng chữ Hán cũng như phải tiếp thu nhiều yếu tố của nền văn minh Trung Hoa?
Vấn đề này rất cần được làm sáng tỏ để từ đó hiểu được truyền thống quý báu của dân tộc ta. Dưới đây chúng tôi xin mạo muội góp vài ý kiến nông cạn, nếu có sai sót mong quý vị chỉ bảo.
Đọc chữ Hán bằng tiếng Việt: Một sáng tạo xuất sắc của tổ tiên ta
Chữ viết hình vuông là một phát minh lớn của nền văn minh Trung Hoa, được người Hán chính thức sử dụng từ đời nhà Thương (thế kỷ 16 đến 11 tr. CN), ngày nay phổ biến được gọi là chữ Hán.
Thực ra trong hơn 2.000 năm kể từ ngày ra đời, thứ chữ viết ấy chỉ được người Hán gọi là chữ  (tự) hoặc văn tự 文字. Đến đời Đường (thế kỷ VII) cái tên 漢字 (Hán tự, tức chữ Hán) mới xuất hiện lần đầu trong sách Bắc Sử 北史 do Lý Diên Thọ biên soạn.[3] Sau đó người Nhật và người Triều Tiên cũng gọi thứ chữ này là Hán tự: tiếng Nhật đọc Kanji, tiếng Triều Tiên đọc Hantzu. Cho tới nay Bộ Giáo dục Đài Loan vẫn chỉ gọi là Quốc tự 國字.
Vì thứ chữ ấy khi vào Việt Nam còn chưa có tên nên tổ tiên ta bèn đặt cho nó cái tên là chữ Nhovới ý nghĩa là chữ của người có học, bởi lẽ Nho  là từ dùng để gọi những người có học. Dân ta gọi người dạy chữ là thầy đồ Nho, bút và mực họ dùng để viết chữ là bút Nho và mực Nho.[4]
Đây quả là một điều độc đáo, bởi lẽ Hán ngữ xưa nay chưa hề có khái niệm chữ Nho; tất cả từ điển Hán ngữ cổ hoặc hiện đại và các từ điển Hán-Việt đều không có mục từ Nho tự 儒字 với ý nghĩa là tên gọi của chữ Hán.
Có thể suy ra: Việt Nam thời xưa không có chữ viết (hoặc đã có chữ Việt cổ nhưng chưa hoàn thiện, chưa diễn tả được các khái niệm trừu tượng), vì thế khi tiếp xúc với chữ Hán, tầng lớp tinh hoa của tổ tiên ta đã nhận thấy đây là một phương tiện cực kỳ hữu ích dùng để truyền thông tin được xa và lâu, không bị hạn chế về khoảng cách và thời gian như cách truyền thông tin bằng tiếng nói, do đó họ đã sớm nghĩ tới việc mượn thứ chữ này làm chữ viết của dân tộc ta.
Muốn vậy dân ta phải biết chữ Hán, một thứ ngoại ngữ. Làm cho dân chúng học và dùng được một ngoại ngữ là việc hoàn toàn bất khả thi ở thời ấy. Hơn nữa chữ Hán cổ khó đọc (vì không biểu âm), khó viết (vì có nhiều nét và cấu tạo phức tạp), khó nhớ (vì có quá nhiều chữ), thuộc loại chữ khó học nhất trên thế giới.
Nói chung, mỗi chữ viết đều có một âm đọc; không ai có thể xem một văn bản chữ mà không vừa xem vừa đọc âm của mỗi chữ (đọc thầm hoặc đọc thành tiếng). Mỗi chữ Hán đều có một âm tiếng Hán; muốn học chữ Hán tất phải đọc được âm của nó. Viết chữ Hán khó, tuy thế tập nhiều lần sẽ viết được, nhưng do khác biệt về hệ thống ngữ âm, người Việt nói chung khó có thể đọc được các âm tiếng Hán.
Ngoài ra Trung Quốc là một nước rộng lớn, đông dân; cho tới trước nửa cuối thế kỷ 20 cả nước vẫn chưa thống nhất được âm đọc của chữ. Loại chữ này chỉ thể hiện ý nghĩa, không thể hiện âm đọc, cho nên nhìn chữ mà không biết cách đọc. Người dân các vùng xa nhau thường đọc chữ Hán theo âm khác nhau, thậm chí khác xa nhau, vì thế thường không hiểu nhau nói gì. Các thứ tiếng địa phương ấy ta gọi là phương ngữ, người Hán gọi là phương ngôn (方言); Hán ngữ hiện có 7 phương ngữ lớn, nhiều phương ngữ nhỏ (次方言).
Không thống nhất được âm đọc chữ Hán là một tai họa đối với người Hán. Với người nước ngoài học chữ Hán cũng vậy: khi mỗi ông thầy Tàu đọc chữ Hán theo một âm khác nhau thì học trò khó có thể học được thứ chữ này.
Để có thể học được chữ Hán mà không cần đọc âm tiếng Hán, tầng lớp tinh hoa của tổ tiên ta đã sáng tạo ra một giải pháp xuất phát từ ý tưởng: nếu người Hán khác vùng có thể tự đọc chữ Hán theo âm riêng của vùng, thì ta cũng có thể đọc chữ Hán theo âm riêng của người Việt.
Muốn vậy, mỗi chữ Hán được tổ tiên ta quy ước đọc bằng một (hoặc vài, tùy chữ Hán gốc) âm tiếng Việt xác định có gốc là âm chữ Hán — ngày nay gọi là âm Hán-Việt, nghĩa là mỗi chữ Hán đều được đặt cho một (hoặc vài) cái tên tiếng Việt xác định, gọi là từ Hán-Việt.
Thí dụ chữ  được đặt tên là chữ Thủy, âm đọc thủy khác với âm đọc shuẩy của người Hán. Chữ , tiếng Hán đọc sưa, ta đọc sắcThủy và Sắc là từ Hán-Việt, cũng là âm Hán-Việt của .
Âm/từ Hán-Việt được chọn theo nguyên tắc cố gắng bám sát âm Hán ngữ mà tổ tiên ta từng biết.[5] Như chữ , âm Hán và âm Hán-Việt đều đọc chung, tức hệt như nhau; chữ , Hán ngữ đọc hái, ta đọc Hài, gần như nhau. Nhưng hầu hết chữ đều có âm Hán-Việt khác âm Hán. Như 集 âm Hán là chí, ta đọc Tập ;  giú, ta đọc Nho. Có chữ âm Hán như nhau mà âm Hán-Việt có thể như nhau hoặc khác nhau, như  và , âm Hán đều là thúng, từ Hán-Việt đều là Đồng ; nhưng  và , âm Hán đều là xi, lại có hai từ Hán-Việt khác nhau là Hệ và Tế. Chữ Hán có hai hoặc nhiều âm thì có thể có một, hai hoặc nhiều âm/từ Hán-Việt, như  có hai âm Hán là tâu và tu, lại chỉ có một âm/từ Hán-Việt là Đô ;  có hai âm Hán shảo và shao, cũng có hai âm/từ Hán-Việt là Thiểu (trong thiểu số) và Thiếu (trong thiếu niên).
Thứ chữ Hán đọc bằng âm Hán-Việt này được dân ta gọi là chữ Nho. Vì đọc chữ bằng tiếng mẹ đẻ nên chữ Nho trở nên dễ học đối với người Việt: chỉ cần học mặt chữ, nghĩa chữ và cách viết văn chữ Hán mà không cần học phát âm cũng như học nghe/nói tiếng Hán. Vì thế thời xưa ở nông thôn nước ta không hiếm người 6-7 tuổi đã biết chữ Nho.[6] Nguyễn Trung Ngạn (1289-1370) 12 tuổi đỗ Cử nhân, 16 tuổi đỗ Hoàng giáp (Tiến sĩ). Người không biết chữ cũng có thể học truyền miệng các tác phẩm ngắn có vần điệu, như Tam Thiên Tự.[7]
Người biết chữ Nho có thể xem hiểu các thư tịch chữ Hán, viết văn chữ Hán; tuy không nói/nghe được tiếng Hán nhưng vẫn có thể dùng bút đàm để giao tiếp bình thường với người Hán. Chỉ bằng bút đàm chữ Nho, Phan Bội Châu giao tiếp được với các nhà cải cách Trung Quốc và Nhật Bản, đưa được mấy trăm thanh niên Việt Nam sang Nhật học quân sự chính trị, chuẩn bị về nước đánh đuổi thực dân Pháp.
Cần nhấn mạnh: vì âm/từ Hán-Việt không thể ghi âm hầu hết từ ngữ tiếng Việt cho nên cách đọc chữ Hán theo âm Việt hoàn toàn không thể biến tiếng Việt thành một phương ngữ của Hán ngữ,[8] và dân ta vẫn hoàn toàn nói và nghe bằng tiếng mẹ đẻ.
Chữ Nho chỉ dùng để viết mà thôi, và chỉ được giới tinh hoa (trí thức và quan lại người Việt) dùng trong giao dịch hành chính, ngoại giao, lễ tiết, chép sử, giáo dục, thi cử, sáng tác văn thơ. Còn ở Trung Quốc, những người nói một trong các phương ngữ tiếng Hán đều có thể dùng chữ Hán để ghi âm được toàn bộ tiếng nói của phương ngữ ấy, nghĩa là họ có thể dùng chữ Hán để ghi âm tiếng mẹ đẻ.
Dĩ nhiên cách đọc tiếng Việt chỉ có thể làm với chữ Hán, là loại chữ biểu ý (ghi ý), chứ không thể làm với chữ biểu âm (ghi âm). Ngày nay âm/từ Hán-Việt của mỗi chữ Hán có thể dễ dàng viết ra bằng chữ Quốc ngữ (một loại chữ ghi âm), nhưng ngày xưa, khi chưa có bất kỳ loại ký hiệu nào ghi âm tiếng nói, tổ tiên ta chỉ có thể truyền khẩu. Thế mà lạ thay, việc dạy chữ Nho đã được mở rộng, ở thời Nguyễn là đến tận làng, có thể suy ra tỷ lệ người biết chữ Hán của dân ta cao hơn Trung Quốc!
Chỉ bằng cách truyền miệng mà người Việt thời xưa đã tạo ra được một bộ từ Hán-Việt tương ứng với bộ chữ Hán khổng lồ — bộ chữ này trong Tự điển Khang Hy (1716) có hơn 47 nghìn chữ; Tiêu chuẩn Nhà nước Trung Quốc GB18030 (2005) có 70.217 chữ; Trung Hoa Tự hải có 85.568 chữ Hán.
Quá trình tiến hành Việt Nam hóa phần ngữ âm của chữ Hán kéo dài trong hàng nghìn năm, là một thành tựu văn hóa vĩ đại. Có thể phỏng đoán đó là một quá trình mở, do nhiều thế hệ người Việt thực hiện, thể hiện sức sáng tạo bất tận của tổ tiên ta.
Nhật và Triều Tiên cũng mượn dùng chữ Hán, nhưng họ tự đến Trung Hoa nghiên cứu đem chữ Hán về dùng chứ không bị ép dùng từ sớm như ta. Họ cũng đọc chữ Hán theo âm bản ngữ của dân tộc mình — giải pháp do người Việt nghĩ ra và thực hiện trước họ nhiều thế kỷ.
Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng Nguyễn Tài Cẩn nói: “Cách đọc Hán Việt là một tài sản của riêng dân tộc ta. Có dùng nó khi đọc Đạo đức kinh, Kinh Thi, Sở từ… thì mới phù hợp với thói quen dân tộc, tiện lợi cho dân tộc. Theo ý chúng tôi, dùng cách đọc Hán Việt ở những trường hợp này là một điều hết sức phù hợp với khoa học. Đọc theo lối Hán Việt thì dễ hiểu hơn, bởi lẽ ngay trong tiếng Việt đã có khá nhiều tiếng Hán Việt quen thuộc, chỉ đọc lên, nghe được, là hiểu được; đọc theo lối Hán Việt thì cũng thuận tai hơn… ”.[9]
Đúng thế. Thí dụ từ 社會, người Anh biết Hán ngữ đọc shưa huây, người Anh không biết Hán ngữ khi nghe âm đọc ấy sẽ chẳng hiểu gì; còn người Việt biết Hán ngữ đọc “xã hội”, người Việt không biết Hán ngữ nghe đọc sẽ hiểu ngay nghĩa của từ; âm “xã hội” thuận tai, dễ đọc dễ nhớ hơn âm shưa huây. Rõ ràng cách đọc Hán-Việt thật tiện lợi cho người Việt. Trong bài sau, chúng tôi sẽ nói thêm về vấn đề này.
Ngày nay mỗi chữ Hán trong tất cả các từ điển Hán-Việt đều phải ghi kèm từ Hán-Việt tương ứng. Hán-Việt Tự điển của Thiều Chửu có kèm Bảng tra chữ theo âm Hán-Việt, dùng tra chữ Hán rất tiện và nhanh hơn tra theo bộ thủ. Người có sáng kiến làm Bảng này là bà Nguyễn Thị Quy (1915-1992), em ruột Thiều Chửu, khi bà lần đầu xuất bản Tự điển nói trên tại Sài Gòn năm 1966.[10]
Như vậy, bằng cách đọc chữ Hán theo âm tiếng Việt, tổ tiên ta đã thành công trong việc mượn chữ Hán để dùng làm chữ viết chính thức của dân tộc mình và gọi nó là chữ Nho. Sự vay mượn này chẳng những không làm cho tiếng Việt bị biến mất mà còn làm cho nó phong phú hơn rất nhiều, trở thành một ngôn ngữ cực kỳ linh hoạt, có thể tiếp nhận và Việt hóa hầu như toàn bộ từ ngữ mới xuất hiện trong tiến trình phát triển của loài người toàn cầu.
Chữ Nho khác chữ Hán ở phần ngữ âm: nó là chữ Hán được đọc bằng âm tiếng Việt chứ không đọc bằng âm tiếng Hán như chữ người Hán dùng. Nói cách khác, chữ Nho là chữ Hán đã được Việt Nam hóa phần ngữ âm; còn về tự dạng và nghĩa chữ thì cơ bản như chữ Hán của người Hán. Vì thế có người gọi chữ Nho  chữ Hán-Việt.
Rõ ràng nó là chữ của người Việt Nam, đã Việt Nam hóa phần ngữ âm, không thể coi là chữ của người Hán. Chữ Nho là chữ viết chính thức của dân tộc ta trong hơn 2.000 năm, kể từ thời điểm muộn nhất là bắt đầu thời Bắc thuộc cho tới khi được thay thế bằng chữ Quốc ngữ cực kỳ ưu việt, được chính các nhà Nho tiên tiến tán thưởng và đi tiên phong ủng hộ sự phổ cập Quốc ngữ.
Cách đọc chữ Hán bằng âm/từ Hán-Việt đã đáp ứng nhu cầu giao tiếp bằng bút đàm giữa quan lại cấp thấp người Việt với quan lại cấp cao người Hán, khiến cho bọn thống trị người Hán vẫn thực thi được quyền lực cai trị dân bản xứ. Hơn nữa, cách đó làm cho việc phổ cập chữ Hán trong người Việt trở nên dễ dàng, tức đáp ứng yêu cầu dạy chữ Hán của các vương triều người Hán. Vì vậy chúng không còn lý do cưỡng chế dân ta phải học nghe/nói tiếng Trung Quốc.
Cách đọc chữ Hán như trên đã có tác dụng không ngờ là làm cho người Hán dù có cai trị Việt Nam bao lâu thì cũng không thể tiêu diệt nổi tiếng Việt và Hán hóa được dân tộc ta. Có thể là khi bắt đầu sáng tạo cách đọc ấy, tổ tiên ta chưa nghĩ tới điều đó, nhưng rốt cuộc sáng tạo xuất sắc này đã giúp dân tộc ta tránh được nguy cơ bị người Hán đồng hóa. Đây là một thành công vĩ đại!
Đáng tiếc là hiện không thấy có thư tịch nào ghi chép ai nghĩ ra và thời điểm nào xuất hiện cách đọc chữ Hán bằng âm/từ Hán-Việt. Có thể cho rằng sáng kiến đó ra đời khi chữ Hán bắt đầu vào nước ta, tức muộn nhất là khoảng thế kỷ 2 – 1 tr.CN.
Có ý kiến cho rằng cách đọc Hán-Việt bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán đời Đường, cụ thể là Đường âm dạy ở Giao Châu vào khoảng hai thế kỷ 8, 9.
Nếu hiểu ý kiến này theo nghĩa đến đời Đường mới xuất hiện cách đọc Hán-Việt thì e rằng khó có thể giải đáp câu hỏi: vậy thì trong thời gian khoảng ngót 1000 năm trước đó người Việt đọc chữ Hán bằng cách nào? Đến đời Đường, người Hán đã thống trị Việt Nam được hơn 9 thế kỷ, quá thừa thời gian để họ hoàn toàn đồng hóa người Việt bằng văn hóa, ngôn ngữ, khi ấy tiếng Việt đã bị biến mất, sao còn có thể xuất hiện cách đọc Hán-Việt?
Phải chăng nên hiểu ý kiến trên theo nghĩa: đến thời Đường, cách đọc Hán-Việt được hoàn thiện nhờ học tập Đường âm dạy ở Giao Châu vào khoảng thế kỷ 8 – 9.
***
Có thể kết luận: dân tộc Việt Nam tồn tại được và không bị đồng hóa sau hơn 1.000 năm chịu sự thống trị của một quốc gia liền kề có nền văn hóa lớn mạnh là nhờ đã phát huy bản lĩnh trí tuệ của mình, thể hiện ở chỗ sáng tạo được biện pháp đọc chữ Hán bằng tiếng Việt, qua đó đã vô hiệu hóa chủ trương đồng hóa ngôn ngữ của các triều đại phong kiến Trung Hoa.
Có những người Hán đã nhận ra bản lĩnh trí tuệ ấy của người Việt.
Năm 987, nhà Tống cử Lý Giác李覺 đi sứ sang Hoa Lư, Việt Nam, được hai vị Quốc sư Khuông Việt và Pháp Thuận đón tiếp, đàm phán các vấn đề quốc gia đại sự và họa thơ. Khi về nước, Lý Giác tặng vua Lê Đại Hành một bài thơ, trong có câu: “Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu 天外有天應遠照”, nghĩa là: “Ngoài trời này còn có trời khác, nên nhìn thấy”. Nói cách khác, thế giới này đâu phải chỉ có một mặt trời Trung Hoa mà còn có mặt trời Việt Nam!
Câu thơ cho thấy Lý Giác đã bước đầu nhận ra bản lĩnh trí tuệ của người Việt. Đúng thế, tổ tiên ta thật vô cùng tài giỏi, nếu không thì còn đâu giang sơn tươi đẹp này!
Nguyễn Hải Hoành là dịch giả và nhà nghiên cứu tự do hiện sống tại Hà Nội.
—————————
[1] Nói là “muộn nhất” vì còn có các quan điểm như: chữ Hán vào VN qua con đường giao thương hoặc truyền bá tôn giáo từ lâu trước khi nước ta bị Triệu Đà chiếm; VN đã có chữ viết từ đời Hùng Vương (Hoàng Hải Vân: Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động).
[2]宋代中越文学交流述论 có câu 黎嵩 “越鑑通考總論” viết : 趙佗 “建立學校,導之經義。由此已降,四百余年,頗有似類” .
[3] Bài 汉字名称的来由 (http://blog.sina.com.cn) và một số bài khác có viết: Từ  Hán tự  漢字 xuất hiện sớm trong Bắc sử, quyển 9 [biên soạn xong năm 659]. 汉字一词早出自《北史》卷九本纪第九, “章宗一”:“十八年,封金源郡王.始习本朝语言小字, 及汉字经书,以进士完颜匡、司经徐孝美等侍读”. Từ Hán tự xuất hiện nhiều trong sách Kim sử 金史 (năm 1345) đời Nguyên. Ở đời nhà Thanh (1644-1911), thời kỳ đầu do chữ viết chính thức của chính quyền không phải là chữ Hán mà là chữ Mãn (满文) nên phải dùng tên gọi chữ Hán 漢字 để chỉ loại văn tự truyền thống của người Hán, nhằm phân biệt với chữ Mãn.
[4] Có ý kiến nói do thời bấy giờ thứ chữ đó được dùng để dạy dân ta học Nho giáo 儒教 nên dân ta gọi nó là chữ Nho. Nhưng Nho với nghĩa “người có học” xuất hiện trước rất lâu, sau đó mới dùng chữ ấy vào từ Nho giáo để gọi học thuyết của Khổng Tử. Cùng lý do ấy, chữ Khổng có trước khi Khổng Tử ra đời.
[5] Khó có thể biết đó là âm tiếng địa phương nào ở TQ. Trong đó có những âm tiếng Quảng Đông, như nhất, nhì, shập, học chập khi đọc các chữ  一,二,十,學習 (âm Hán-Việt đọc nhất, nhị, thập, học tập).
[6] Thí dụ Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947) 8 tuổi học chữ Nho, 13 tuổi văn hay chữ tốt, 24 tuổi đậu Giải Nguyên, 28 tuổi đậu Đệ tam giáp Tiến sĩ. Phan Bội Châu (1867-1940) 6 tuổi học ba ngày đã thuộc lòng 1440 chữ Nho trong Tam Tự Kinh. Trần Gia Minh tác giả sách Huyền thoại Kim thiếp Vũ Môn 5-6 tuổi đã học chữ Nho truyền khẩu từ người ông mù lòa.
[7] Do nhà Nho Đoàn Trung Còn sáng tác, là một bài vè dài, mỗi câu hai âm, đọc lên có vần điệu dễ nhớ.
[8] Năm 1867, G. Aubaret trong cuốn Grammaire annamite từng sai lầm nhận định: “Tiếng bình dân nói trong vương quốc An Nam là một phương ngữ của tiếng Trung Quốc” (trích dẫn theo Phạm Thị Kiều Ly trong “Ghi âm tiếng Việt bằng chữ Quốc ngữ”, sách “Tiếng Việt 6”, Nxb Tri Thức, 2015).
[9] Nguyễn Tài Cẩn : Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt.
[10] Dẫn theo Lê Quốc Trinh, con trai bà Quy và là người trực tiếp tham gia làm Bảng tra này.

TỰ HÀO DÂN TỘC THÁI QUÁ SINH LẠC HẬU VÀ MỤ MỊ TRONG TĂM TỐI.

IFoolTD.
Trong chuyến đi 3 nước 2006 : Malaysia - Thailand - Australia. Một ông anh lúc đó đang học Nghiệp vụ quản lý nhà nước và Tiếng Anh tại Singgapore (nay là 1 trong phó Giám đốc sở GTCC phụ trách tuyến Metro TP.HCM) chat qua Yahoo hỏi 
- Mình so với Thái mà Malaysia thế nào em?
- Khoảng 50 năm lao động và 30 năm văn minh.
- Em có cần nói Việt Nam mình vậy không?
- Em nói thật : về kinh tế Hàng hóa họ có 65-75% nội địa hóa, Nông nghiệp 80% nội địa hóa. Chúng ta phải mất 50 năm theo kiểu phát triển hiện nay may ra theo kịp?
- So với Australia thì sao em ?
- 100 năm kinh tế - 200 năm văn minh.
- làm gì có chuyện đó, em hướng ngoại quá. hàng ngàn du hoc sinh của TP đang hoc các ngành và nghiệp vụ tại Úc mà.
- Anh tin cũng được, không tin cũng chẳng mất gì.
 
Sau đó khi gặp nhau cafe tại Sai gòn: Anh hỏi rõ về Khoảng cách với Australia.
Kinh tế : Australia : nội hóa nông nghiệp > 90%, đó là đất nước duy nhất mà người nông dân có mức sống cao hơn thành thị.
Công nghiệp và dich vụ : Nội địa hóa cao, sản phẩm chất lượng, chính sách thuế hợp lý, kinh tế thị trường quá phát triển.
Còn văn minh : họ đạt mức tự giác trên mọi phương diện : đi xe bus, ferry, Tàu lửa, metro tự cà thẻ, không soát vé. điểm dừng các ga tự động, Giao thông trật tự theo luật rất nghiệm túc, vào siêu thị không cần gởi hành lý, Giáo duc quốc tế hóa trên cơ sở rất phù hợp với mọi sắc dân và hiện đại.
Con người : nhiệt tình giúp đỡ nhau, du khách được đối xử công bằng, lich sự. Văn mình, sòng phẳng và ý thức. 
Tài nguyên thiên nhiên được quản lý và bảo vệ chặt chẽ, quy hoạch nguồn nước, khoáng sản cho con cháu là 50 năm, họ không cho phép dùng cây rừng, Đá núi làm vật liệu xây dựng, không dùng đất sét làm gạch, từng hạt cát, vôi, cũng chắc chịu gìn giữ
- Ta cách họ 200 năm đúng không anh ?
- Chú quá tự ti rồi .....
Năm 2015 . 10 năm sau lần gặp ấy!
Việt Nam thừa nhật tut hậu với Thái 50 năm trên các phương tiện truyền thông báo chí
Các cửa hàng - siêu thị của các tập đoàn kinh doanh lớn đều là nơi phân phối 90% hàng hóa sản xuất - lắp ráp cho Trung Quốc.
Bạn có thể xác minh qua thực tế, Ngày 2/9/2015 mình cần 1 bàn ủi nước, ra Điện máy Xanh (thuộc tập đoàn siêu thị bán lẻ TGDD) xem 32 mẫu bàn ủi, 29 mẫu sản xuất và lắp ráp ở China, 1 indonêsia : giá 299.000, 1 malaysia giá 340.000 - 520.000" 1 cái là nhãn mác Nhật nhưng không ghi rõ nơi lắp ráp giá > 1triệu.
Anh nhân viên phuc vụ rất tận tình, chạy lăng xăng giới thiệu.
- Có cái bàn ủi nào của Việt Nam sản xuất hay lắp ráp không em ?
- Hình như không có anh ơi!
- Mắc chút cũng được em xem có không ?
- Hàng này công ty hợp tác lắp ráp với China, chất lượng tốt lắm !
- Sao không hợp tác với Doanh nghiệp VN cho dân Vn có việc làm nhỉ?
- Chi phí và kỹ thuật anh ơi !.
Qua Thiên Hòa, Chơ lớn .v.v. đều là nhưng nơi ra hàng cho China hết, Sản phẩm quốc nội dù là CKD lắp ráp thôi không đươc 10%, Nguyễn Kim thì hàng Thái là hầu hết. 
Quyết định Không mua về sửa cái Philips sử dụng tiếp.
Chiều đi Coopmart (Hợp tác xã của Nhà nước) mua nhu yếu phẩm xong vào khu vực mua dụng cụ học tập cho Bin- Bo.
Không có 1 sản phẩm Việt nam ?????
Hộp bút, bút chì, bút lông, thước Made in China cả?
- Thôi mình về các con
- con thichi mấy bút chì và dụng cụ đó, màu đẹp quá!
- Nó là sản phẩm độc hại, nó sẽ giết các con khi sử dụng, nó sẽ giết dân tộc ta trong tương lai gần.
Về nhà tôi chở các con ra 1 nhà sách trên Đường Đồng Đen:
- Anh có bán Bút chì, bảng, Phần, thước 100% VN sản xuất không? "Thiên long" hay "Bến Nghé" đó
- Có nhưng hộp bút thì VN không sản xuất?
- 10 cây bút chì "Thiên long", 10 cây bút lông kim "Bến nghé". Cho em coi cái hộp bút dành cho tiểu học! tổng cộng 96.000. (bút chì Vn : 4.000/cây, ở Coopmart 4 cây bút chì china giá 9000VND)
- Của China nghen anh.
- Lai nó nữa, có của Thai hay bất kỳ nước nào khác không? có loại bằng gỗ thông như hồi xưa không, của Vn mình đó, kéo ra đậy vào?
- Không có,
Trời đất nước công nghiệp hóa - Hiện đại hóa : cái hộp bút bằng nhựa cũng phải nhập của ngoại bang
Các doanh nghiệp thương mại - dich vụ thì đang làm vai trò tuông hàng cho China, Doanh nghiệp sản xuất thì phá sản. Công nhân Vn thất nghiệp, các Doanh nghiệp FDI, ngay cả DN trong nước lại nhập khẩu gần cả triệu Công nhân Trung Quốc???? Nông dân thì bị bán phá giá , bán "lúa non" , thương lái theo China tẩm độc vào sản phẩm để đạt lợi nhuận và giết người tiêu dùng .v.v.

Việt Nam có gì, còn gì ??? hay chỉ là cô gái đẹp mặc trên mình cái áo rách và trang điểm lòe loẹt !
PS. Bạn hãy thực tâm trả lời ???

Nguồn bài viết: Nhan Do Van

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.